Trên bước đường Nam tiến của cha ông, trong dãi đất cai quản thuộc Quảng Nam thừa tuyên(1471) có phủ Hoài Nhơn vùng đất biên viễn tới tận đèo Cù Mông hoang sơ, đầy lam chướng cho đến khi định hình địa danh Bình Định(1832). Những cư dân đầu tiên cùng tiếp nối nhiều thế hệ đã gắn bó, khai khẩn hòa huyết với người bản địa đã dần tạo và hun đúc hình thành những nét đặc trưng tiêu biểu cho người xứ Nẫu-Bình Định. Có lẽ ai đó cũng từng nghe và thấy nét khí phách, hùng dũng:
“ Ai, về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền”.
Nhận xét về người Bình Định, Quách Tấn viết “ Người Bình Định phần đông, tánh tình chất phác, đôn hậu, chuộng khí tiết, trọng nhân nghĩa. Ngoài xã hội lấy trung tín làm gốc. Trong gia đình lấy hiếu thuận làm nền”(tr.391), xuất phát từ những nền tảng cơ bản ấy mà hai chữ Qui Nhơn đã ra đời, chứng minh cho sự hội tụ, cách ứng xử đối đãi giữa người với người trong hoàn cảnh sơ khai thửa ban đầu hình thành một vùng đất.
“ Nghĩa nhơn hai gánh tràn trề
Gánh từ Phù Mỹ gánh về Hoài Nhơn
Mẹ, cha nào tính thiệt hơn
Bạc, vàng nặng ít nghĩa nhơn nặng nhiều”
Điều đặc biệt thường thấy sau các đám giỗ của người Bình Định, mỗi người đến dự đám giỗ khi ra về còn được gói gém vài chiếc “bánh ít” nho nhỏ mang trọn tấm lòng thơm thảo, trân trọng “nghĩa nhơn”, “ của ít lòng nhiều” gói vào lá chuối mang về làm quà cho con, cho cháu và trong suy nghĩ của cá nhân tôi phải chăng tên gọi chiếc bánh “bánh ít” nho nhỏ xuất phát từ những suy nghĩ mộc mạc ấy? Vì vậy đã có giai thoại rằng người con gái Huế vì chuộng món “bánh ít” đã vượt qua khó khăn cách trở địa lý về làm dâu đất Bình Định.
“Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi”
Dưới bóng tháp Chàm cao vút, Tháp Đôi còn gọi là tháp Hưng Thạnh - Tuy Phước xưa kia, vẫn trầm mặc giữa trời xanh soi mình trong dòng nước:
“ Cầu Đôi mà tháp cũng đôi
Dễ chi nhân nghĩa mà rời được nhau”
Tháp Đôi
Đứng chân trên vùng đất trầm tích với bề dày văn hóa đa tầng. Tuy Phước là nơi sản sinh người nghệ sĩ – Tổng đốc Đào Tấn, cái nôi ra đời của nghệ thuật hát bội thấm đượm trong tâm hồn của mỗi người dân nơi đây cùng hòa quyện nét đẹp đường khối hài hòa của tháp Chàm, món nem chợ Huyện dường như thêm một chất kết dính làm tăng đủ thêm hương vị của cuộc sống thêm gắn kết vào nhau:
“Ai về Tuy Phước ăn nem
Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm”
Hay:
“Ai về Vinh Thạnh quê em
Ăn nem chợ Huyện, xem đêm hát tuồng ”
Tinh tế trong cách chế biến và thưởng thức, mỗi chiếc nem ra lò đều giữ cho mình bí quyết, độ ngon bắt đầu phải từ cách chọn thịt, phải là thịt lợn cỏ một con chỉ lấy độ mươi lăm ký nạc, thịt được thái để ráo và cho vào cối quết, quết liên tục chỉ được dừng khi thịt đã chín, trong lúc quết gia vị được cho vào với liều lượng thật chính xác và da lợn thái như cọng bún cũng được thêm vào, nem được gói trong lá ổi nếu ăn nem chua thì để ba ngày thì dùng được khi ăn kèm theo tỏi vì trong vị chua, thơm, béo, bùi của nem còn có vị nồng thơm của tỏi đồng thời tỏi có tính vị sát khuẩn mạnh đảm bảo cho “khúc đoạn trường” an toàn khi thưởng thức.
Nem chua chợ Huyện
Thịt chế biến làm nem, tận dụng và tiết kiệm những món: đầu, tai, mũi,... người Bình Định làm thêm món Tré rất đỗi bình dân, dân dã “làm chơi ăn thiệt” do cách làm không khó nhưng thưởng thức một lần là nhớ mãi dư vị bùi bùi thơm của mè riềng, cay nồng của tiêu,ớt; ngọt béo giòn của thịt và điều đặc biệt ăn quá một chút cũng không ngán.
Món Tré
Chắt chiu hơn, xương heo để ra hầm nấu cháo và còn bộ lòng, gồm: tim, gan, cật, dạ trường,... dưới bàn tay tần tảo có thêm món cháo lòng bổ dưỡng nhưng có một điều không thể thiếu được khi đi kèm với món cháo lòng là món bánh hỏi.
Dây dưa một chút với món bánh hỏi; theo các cụ cho biết tên bánh hỏi ra đời là “ lúc đầu mới sản xuất ra, ai thấy cũng hỏi là bánh gì? Từ đó cái tên bánh hỏi được khai sinh”(1) và cách đặt tên ngẫu nhiên này cũng giống như một cách đặt tên cho cây thì là trong văn học dân gian Việt Nam.
Khi thưởng thức đĩa lòng được đưa lên sắp đặt đầy đặn, miếng gan sắc không quá dày nhưng cũng không được quá mỏng, miếng huyết làm dồi “bùi nghẹn”, miếng tim dẻo dẻo,... tấc cả được trụng lướt qua nước mắm pha ớt ăn kèm rau thơm, bánh hỏi và khi chúng đưa tấc qua thực quản, húp bát cháo lòng ấm ấm mà cảm thấy lòng mình “ngậm nghe” được cả dư vị cuộc đời.
Nếu ai đó một lần ghé qua Bình Định, nhớ đừng quên những món ăn dân dã, bình dị mà không kém phần tinh tế và cùng thưởng lãm rót cho nhau “nước mắt quê hương” rượu Bàu Đá thơm nồng, để thương yêu, hiểu nhau hơn:
“ Rượu Bàu Đá nhắm với mực khô
Có xuống âm phủ cũng đội mồ mà lên”
Đó là cách nói vui, phần nào đã khái quát lên những món ngon đặc trưng cũng như bản tính con người Bình Định quê tôi.
Qui Nhơn, ngày 7/11/2014
Lúc 23h55’- Hoàng Bình

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét