Tổ chức kho mở là xu hướng hiện nay của các thư viện, tạo cho bạn đọc
sự thoải mái tự do lựa chọn tài liệu. Hầu hết các thư viện tổ chức kho mở hiện
nay được tổ chức theo phân loại. Áp dụng nhãn mã màu cho tài liệu là một giải
pháp hỗ trợ dùng để quản lý tài liệu trong tổ chức kho mờ. Nhãn mã màu là một
hệ thống nhận dạng cho cho phép chúng ta dễ dàng nhìn thấy và xác định nhanh
chóng tài liệu trong kệ sách đã được phân loại, cũng như xác định vị trí thất
lạc của một tài liệu khi để nhầm vị trí trong kho sách. Giải pháp này đem lại
nhiều lợi ích như: Dễ dàng phân loại và sắp xếp sách, giảm thời gian xếp sách
vào kệ, dễ dàng thấy sách bị đặt nhầm - kể cả sách mỏng, giảm được sự thay thế
sách mất, đơn giản hóa trong việc đào tạo nhân viên mới khi phục vụ. giúp cho
bạn đọc - cán bộ thư viện cảm thấy thân thiện hơn, xác định dễ dàng hơn những
nhóm tài liệu cùng một lĩnh vực mà họ đang tìm kiếm, có thể tiết kiệm chi phí
bằng cách kết hợp nhiều thông tin trên một nhãn duy nhất.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đòi hỏi trong
việc hướng đến tổ chức kho mở tại Thư viện Bình Định. Xác định được lợi ích từ
việc áp dụng giải pháp trên, ban giám đốc đã có sự quan tâm về việc đầu tư
trang thiết bị, kinh phí để thực hiện giải pháp trên. Vì vậy, việc xây dựng
phần mềm hỗ trợ in nhãn màu đã được phòng Thông tin tư liệu – Tin học nghiên
cứu và phát triển.
1. Quá trình
nghiên cứu, xây dựng phần mềm in nhãn mã màu.
Để xây dựng phần mềm in
nhãn mã mở, chúng tôi đã nghiên cứu tìm hiểu các quy tắc sắp xếp tài liệu phổ
biến hiện nay trong hệ thống thư viện công cộng, tham khảo tài liệu về bảng mã
màu của các thư viện ở ngoài nước. Từ đó, chúng tôi xây dựng phần mềm in nhãn
mã màu được thực hiện đơn giản hóa các thao tác một cách tự động để chuyển đổi
số phân loại DDC sang mã màu.
Về mã màu: Bảng mã màu áp dụng cho bảng phân loại DDC được tham
khảo theo chuẩn bảng mã màu của các hệ thống thư viện công cộng lớn trên thế
giới đang áp dụng, nhằm sau này bảo đảm tính thống nhất và tương thích với mã
màu.
* Về nhãn màu:
Thông
tin thể hiện trên gáy sách bao gồm: phân loại DDC, Cutter. Thông tin thể hiện
trên nhãn sách gồm: Tên tài liệu, tác giả, phân loại, cutter, số đăng ký cá
biệt. Ngoài ra trong một số trường hợp yêu cầu có thể điều chỉnh một số thông
tin trên nhãn như: năm xuất bản, mã ngôn ngữ (đối với sách ngoại văn), …
* Yêu cầu đầu
vào: Dữ
liệu file ISO 2709
- Đối với file ISO 2709 của phần mềm ILIB:
Tác giả chính: trường 100, tên sách: trường 245, phân loại DDC và cutter:
trường 082, số đăng ký cá biệt: trường 852.
- Đối với file ISO 2709 của phần mềm ISIS: Tác
giả chính: trường 001, tên sách: trường 002, phân loại DDC và cutter: trường
162 và 181 , số đăng ký cá biệt: trường 027 và khối trường 27X.
Các mẫu thử của PSC Zlib (thư viện Khánh
Hòa), Libol (Thư viện KHTH Tp. Hồ Chí Minh) được lấy theo giao diện tra cứu
OPAC trên các thư viện đang ứng dụng thì không có số đăng ký cá biệt kèm theo
nên không áp dụng. Đối với mẫu của phần mềm Verbrary trường 852$j cần phải dùng
thuật toán chuyển đổi qua chữ không dấu và phân tách số để thực hiện.
(Lưu ý: đối
với một số trường hợp file ISO MARC, số đăng ký cá biệt có thể lưu ở khối
trường cục bộ 9XX và có thể yêu cầu nhà cung cấp điều chỉnh trong phần mềm)
* Yêu cầu đầu
ra: Nhãn mã
màu thể hiện đúng theo quy tắc mã màu, đúng cấu trúc.
* Quy trình
thực hiện:
Đặc trưng kho tài liệu của thư viện tỉnh Bình
Định là kho vừa đóng, vừa mở. Kho mở là những tài liệu được lựa chọn theo các
tiêu chí: nhóm tài liệu bạn đọc thường sử dụng, tài liệu mới, nhóm tài liệu có
tính chất định hướng giới thiệu bạn đọc theo sự kiện hay chủ đề.
Vì vậy, thư viện Bình Định không thực hiện
dán toàn bộ kho sách, mà chỉ dán những tài liệu được đưa ra phục vụ tại kho mở.
Công việc thực hiện in nhãn và dán nhãn được giao cho nhân viên thuộc bộ phận
phòng đọc.
Trước khi xử lý tài liệu ta phân chia sách
thành 2 nhóm khác nhau:
- Nhóm tài liệu có sách mỏng (độ dày nhỏ hơn
2 cm)
- Nhóm tài liệu có sách trung (độ dày lớn hơn
2 cm)
Bước 1: Lấy file dữ liệu
Tìm tài liệu từ giao diện OPAC lấy file
anpham.usm về máy tính. (Để tìm kiếm
nhanh hơn, khuyến nghị cán bộ sử dụng thiết bị quét mã vạch để thực hiện)
Bước 2: Nhập toàn bộ dữ liệu file ISO vào phần mềm
Bước 3: Dùng bộ lọc để lọc lại nhãn tài liệu theo mã
kho
Bước 4: Thực hiện in nhãn
Tạo ra nhãn ta chỉ đơn giản
là nhấn nút [In nhãn] theo các loại
nhãn sách đã chọn trước. Nếu muốn in các nhãn tiếp theo ta nhấn [Lọc nhãn] để loại bỏ các mã nhãn vừa in
và tiếp tục in nhãn khác.
Đối với sách gáy nhỏ (<2
cm) mỗi trang in chứa 15 nhãn, sách gáy lớn mỗi trang in chứa 12 nhãn. Trong
trường hợp in tên giấy tomy 129 mỗi trang in chứa 10 nhãn, đối với sách gáy nhỏ
chữ số phân loại sẽ được điều chỉnh về bên phải 1 cm.
2. Đánh giá về quá trình thực hiện:
Quá
trình thực hiện thao tác in ấn nhãn mã màu đơn giản và nhanh chóng. Về vật liệu
in, thư viện sử dụng giấy Decal A4 đế xanh, trong trường hợp áp dụng dán sách
khối lượng lớn, nên sử dụng giấy decal Tomy 129 khổ A4 để in, thao tác dán nhãn
sách sẽ nhanh hơn, nhưng tăng thêm chi phí về giá thành. Về máy in, khuyến cáo
sử dụng máy in laser màu thay vì máy in phun, trong trường hợp sử dụng máy in
phun màu nhãn sẽ nhạt dần trong thời gian ngắn do điều kiện nhiệt độ và ánh
sáng. Trường hợp sách quá mỏng có thể sử dụng thêm nhãn đính (spin label) dán
trên đỉnh sách để giúp bạn đọc dể dàng tìm kiếm và lựa chọn tài liệu.
Format
in nhãn được thể hiện bằng form mẫu trên file Excel nên dễ dàng chỉnh sửa logo
đơn vị, và tùy biến kiểu nhãn. Chương trình có thể áp dụng một cách thuận lợi
đối với các thư viện đã triển khai kho mở trước đây mà không cần phải thay đổi
về quy tắc và trật tự sắp xếp.
Một
số định dạng MARC 21 trên các phần mềm không có đầu ra cho số đăng ký cá biệt
như LIBOL, PSC Zlib nên không thể thực hiện. Vì vậy cần phải liên hệ nhà cung
cấp để thay đổi đầu ra có số đăng ký cho khu vực 9XX hoặc trường 852. Một số
phần mềm đang sử dụng CDS/ISIS việc mô tả số ĐKCB cũng khác nhau nên, cần phải
lập thuật toán để tách rời những số đăng ký cá biệt đối với một số trường hợp
cụ thể.
Cần
phải xem xét trường hợp tên gáy sách đối với sách Việt Nam là dán phía trên hoặc phía
dưới. Đối với sách Anh-Mỹ tên gáy sách tài liệu theo một quy tắc nhất định từ
trên xuống thì có thể dán đồng nhất nhãn gáy ở phía dưới, ngược lại đối với
sách tiếng Pháp thì tên gáy sách theo chiều ngược lại từ dưới lên, ta có thể
dán đồng nhất ở phía trên. Trong khi đó sách xuất bản tiếng Việt tên gáy sách
được in một cách tương đối thoải mái. Vì vậy, việc dán nhãn gáy sách trong
nhiều trường hợp có thể che mất đi tên sách hoặc một phần tên sách, làm giảm đi
khả năng tiếp cận tài liệu đối với bạn đọc.
3. Định hướng nghiên cứu, phát triển:
Hiện
tại chúng đang áp dụng mã màu cho chỉ số phân loại DDC. Trong tương lai dự kiến
sẽ tiến hành khảo sát để thiết lập mã màu theo tiêu chí khác cho một số loại
tài liệu có tính chất đặc biệt.
Đối với nhóm sách tiểu
thuyết văn học thì việc áp dụng theo chỉ số phân loại DDC trùng nhau khá nhiều
nên việc xếp sách theo phân loại DDC là chưa hợp lý và chính xác, trong khi đó
áp dụng bảng mã cutter Việt Nam
hiện tại thì chưa thuận tiện cho sắp xếp theo tác giả. Vì vậy, cần nghiên cứu
quy tắc sắp xếp đối với tác giả Việt Nam và nghiên cứu bảng mã màu dành
cho chữ cái đối với tác giả, trong đó chú ý đến các ký tự nguyên âm và dấu đối
với tiếng Việt.
Đối với kho sách thiếu nhi
cần nghiên cứu quy tắc phân loại sắp xếp theo chủ đề và số lượng mã màu áp dụng
đối với từng nhóm tài liệu càng đơn giản và dễ hiểu đối với thành phần bạn đọc
là trẻ em.
Nghiên cứu xây dựng hệ thống
biểu tượng nhận diện đối với các nhóm tài liệu theo hình thức, lĩnh vực,.. Việc
áp dụng biểu tượng nhận diện kết hợp với mã màu giúp cho bạn đọc dễ dàng lựa
chọn tài liệu một cách chính xác hơn. Nghiên cứu giải pháp tích hợp mã QR code
lên nhãn sách, nhằm phục vụ cho công tác kiểm kê.
Thư viện tỉnh Bình Định áp
dụng mã màu vào quản lý tài liệu là một giải pháp tốt để hỗ trợ trong công tác
tổ chức kho mở. Mặc khác, chúng tôi cũng đã nghiên cứu mở rộng phần mềm in nhãn
có tính khả dụng đối với các thư viện huyện đang áp dụng các phần mềm quản trị
dữ liệu khác. Trong quá trình thử nghiệm phần mềm in nhãn cho công tác tổ chức
kho mở, chúng tôi cần sự góp ý hỗ trợ, chia sẽ kinh nghiệm việc quản lý, tổ
chức kho mở, cũng như về định dạng kiểu mẫu nhãn phù hợp hơn… để phần mềm ngày
càng hoàn thiện hơn trong tương lai.
NGUYỄN NGỌC SINH
NGUYỄN NGỌC SINH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Đào. Về vấn đề tổ chức kho mở trong các thư viện hiện
nay.// TC Thông tin và Tư liệu. - 2008. -no. 3. -tr. 23-27. -ISSN. 1859-2929
2. Nguyễn Thị Lan Hương. Ứng dụng khung phân loại DDC 14 vào kho đọc
sách tự chọn tại thư viện quốc gia Việt Nam.// Nguyễn Thị Lan Hương // Thư viện
Việt Nam.
- 2011. -no. 2. -tr. 7-11. -ISSN. 1859-1868
3. Vũ Văn Sơn. Áp dụng ký hiệu tác giả cho kho sách trong kho mở ở
Việt Nam.// Tạp chí Thông tin tư liệu.- 2001 – No 2. Tr. 15-21.
Ambitious Meets Audacious.//
Library Journal
129. 2
(Feb 1, 2004): 42-45
Nguồn:TẠP CHÍ THƯ VIỆN SỐ 1-2013


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét