Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014


VÀI NÉT TÌM HIỂU THÔN XUÂN QUANG (Xuân Quơn) & LÀNG VÀNG TP.QUY NHƠN – BÌNH ĐỊNH,  NHỮNG NĂM ĐẦU TK . XIX QUA  ĐỊA BẠ, VĂN KHẾ RUỘNG ĐẤT
***
                                                                                     Hoàng Bình

          Đầu TK.19 đô thị cổ Quy Nhơn được hình thành cơ bản trên nền tảng hai thôn: Chánh Thành và Cẩm Thượng với diện tích không quá 7km2  có lẽ sự hiện hữu này còn được ít nhiều người biết đến, ví như Đình Cẩm Thượng vẫn còn tồn tại dù chỉ là lớp vỏ ngoài, trong khi đó ngoài phạm vi thực địa này thì hầu hết những tên ngày xưa - thôn cũ, như Xuân Vân(P. Gềnh Ráng), Xuân Quang(P. Quang Trung) cũng góp phần không nhỏ cho sự hình thành diện mạo thành phố Qui Nhơn hiện đại, dường như thực sự chìm vào sự lãng quên của thời gian cũng trong tâm thức nhiều người đang sống trên mảnh đất này.

1.     Quá trình thành lập ấp Xuân Mĩ-thôn Xuân Quang:
Dưới góc độ của các nhà nghiên cứu thì quá trình hình thành làng xã ở Bình Định  là quá trình di dân, khai hoang, tụ cư qua nhiều thế kỉ, đã chứng minh “quá trình lập làng ở phủ Qui Nhơn không hình thành do sự tan rã của công xã nguyên thủy hoặc do chuyển hóa từ công xã nông thôn như các làng xã lâu đời ở phía Bắc, mà việc lập làng chủ yếu do quá trình khai hoang,...  ruộng đất làng xã có điều kiện tư nhân hóa ngay từ đầu” và quá trình này vẫn là tiến trình liên tục các triều chúa, vua nhà Nguyễn sau này.
Có lẽ không nằm ngoài quy luật “di dân, khai hoang, tụ cư ”- “ đất lành chim đậu”, thôn Xuân Quang có đủ điều kiện hình thành, kết cấu nên cơ sở làng xã thửa sơ khai. Trong trí nhớ của cụ Đoàn Văn Trúc năm nay 85 tuổi, cũng như đối chiếu gia phả họ Đoàn (tổ tiên là Đoàn Thập) đến nay là đời thứ 8 sống trên vùng đất này và nếu ví như mỗi đời là 50 năm thì họ Đoàn đã đến cư ngụ, khai hoang vào những năm 20 thế kỉ thứ XVII.
 Dưới thời Gia Long(1815), Xuân Quang có tên gọi khác là Ấp Xuân Mĩ, tổng Thời Tú thuộc huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn, trấn Bình Định với diện tích điều tra địa bạ là: 93.8.9. 3.2 (93 mẫu, 8 sào, 9 thước, 3 tấc, 2 phân) phần lớn đất đai thuộc tài sản cá nhân (tư điền). Năm 1839 có tên chính thức thôn Xuân Quang trong văn bản địa bạ dưới triều vua Minh Mạng, đồng thời cho thực hiện thí điểm một cuộc cải cách ruộng đất ở tỉnh Bình Định: sung công một nửa số ruộng tư của các nhà giàu để chia lại cho dân đinh theo phép quân điền, do đó thôn Xuân Quang sau khi quân điền, có: 41.4.3.0 mẫu công điền và 41.6.3.3.2 mẫu tư điền… qua các thời vua Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Duy Tân, Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại, thôn Xuân Quang thuộc Tổng Dương An, Phủ Hoài Nhơn (hoặc Phủ An Nhơn), huyện Tuy Phước.



Trước năm 1945, địa giới thôn Xuân Quang xưa bao trùm phần lớn và lớn hơn toàn bộ phường Quang Trung ngày nay, so sánh với phạm vi ước lượng trên thực địa thì ta có thể tạm bắt đầu từ ngã tư đường Phạm Ngũ Lão – lấy tâm đường Nguyễn Thái Học trở vào núi Bà Hỏa từ đó kéo dài đến chân núi Vũng Chua vắt qua Xóm Tiêu cùng một phần lớn khu vực đèo Son, tiếp giáp hồ Phú Hòa. Phía Nam giáp với thôn Xuân Vân(P.Gềnh Ráng) cùng với động cát Trường An chạy ra đến Sở Cố (trường ĐHQN) ở phía Đông tạo thành hai nhánh suối thoát nước ra biển (nhánh suối thoát nước còn lại nay là hệ thống thoát nước chôn ngầm dưới khách sạn Hoàng Gia), như vậy cho thấy thôn Xuân Quang hầu hết đều bị nước chia cắt bởi hệ thống sông và suối lớn tạo thành nhiều bàu, hồ nước, như: Bàu Sen, Bàu Lác, Hồ Le, Bàu Bà Sẵn(đối diện chùa Lộc Uyển),hơn 90% đất đai làm nông nghiệp với hai cánh đồng lớn, gồm: cánh đồng Bàu Trên thuộc Phú Hòa(Phú Huề) và cánh đồng Bàu Dưới được phân chia bởi hòn Đá Chim ở giữa hồ làm địa giới, ở cánh đồng Bàu Dưới có các xứ đồng, như: đồng Vườn Cau(nhà máy nước), đồng Bàu Trong(xóm Tiêu), đồng ruộng Họ, đồng vườn Cau, đồng Ao Kết(phía bên đường Điện Biên Phủ),... cả thôn có 120 hộ dân với 720 nhân khẩu, ngành nghề chủ yếu là làm nông nghiệp, canh tác hoa màu. Theo lời kể của cụ Đoàn Văn Trúc(372/1 Tây Sơn) thì hồ Phú Hòa luôn được sông Hà Thanh bồi lắng, hàng năm mở rộng thêm từ 5-7 hecta, như ngay cả nơi ở của cụ hiện tại thì ngày trước cũng là dòng suối lớn và Xuân Quang ngày đó có 2 xóm chính: xóm Xuân Quang Tây (địa giới từ nhà máy nước kéo dài đến Xóm Tiêu, Đèo Son, giáp với hồ Phú Hòa)xóm Xuân Quang Đông(địa giới từ nhà máy nước đến gần Bàu Sen bây giờ).
Đi đôi với việc mở rộng thêm diện tích do bồi lấp tự nhiên bên cạnh đó dấu ấn đậm nét công cuộc khai hoang cải tạo ruộng đất, canh tác hoa màu nổi lên có địa chủ Lâm Tăng Tâm (con Bá hộ Mười), tập trung tư hữu hóa phần lớn ruộng đất về tay mình đồng thời cho tá điền canh tác phát canh thu tô. Vật chứng còn lại của thôn Xuân Quang vẫn đang tồn tại mang đậm dấu vết thời gian là cây bàng cổ thụ hơn 200 năm tuổi, các cụ cho biết khi đời bố của các cụ sinh ra đã có cây bàng này rồi, trước đây khu đất này cao hơn so với mặt bằng xung quanh dưới bóng mát của cây bàng là nơi tập trung nghỉ ngơi hóng gió mỗi chiều.   

                                (Cây bàng nằm ở ngã ba trên đường Thanh Niên- TP.Qui Nhơn)
Điều đặc biệt qua sưu tra, dịch trong các văn khế mua bán, cầm cố đất đai tại thôn này từ Thiệu Trị(1842) đến Duy Tân(1914) xuất hiện địa danh Làng Vàng xứ thuộc thôn Xuân Quang, qua khảo sát thực địa so sánh, đối chiếu lời kể có thể kết luận địa danh Làng Vàng gần như một mĩ hiệu? bao gồm hầu hết các xứ đồng ở địa phận thôn này, song địa giới hành chính chính xác cho Làng Vàng xứ  thì vẫn còn là điều bí ẩn?, phần nào cho thấy tính chất tập trung, ổn định phù hợp điều kiện khai hoang, đất đai trù phú, ruộng đất màu mỡ tại cánh đồng Bàu Dưới được mở rộng.

         
                        Văn khế ruộng đất năm Duy Tân thứ 7(1914)
                             (Địa danh Làng Vàng đánh dấu trong ô vuông)

2. Lễ hội truyền thống:
Thôn Xuân Quang có các dòng họ lớn: họ Nguyễn, họ Lê, họ Đoàn, họ Trần và họ Đinh, trong đó dòng họ Lê là họ lớn nhất trong làng(1). Theo Đồng Khánh địa dư chí thì “…các thôn ven núi Tổng Dương An phong tục gần giống các thôn thượng du Tuy Viễn,…”(tr.1563)   được nhấn mạnh tính “cần kiệm, bản tính đôn hậu, biết trọng liêm sỉ”(1650) và “ việc cưới xin tang tế cùng các lễ tiết trong năm cũng giống như các huyện phủ Hoài Nhơn, nhưng có phần trọng hậu hơn”  theo đó, lệ của thôn Xuân Quang là ba năm tổ chức một ngày hội hát Xuân Minh, lễ xuống vụ vào ngày 10 tháng 11 âm lịch hằng năm và lễ hạ điền cúng tại Miếu Bà sau khi thu hoạch hoàn tất, cầu cho mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi hanh thông.
Đi liền với những lễ tiết này hình ảnh đình và chùa dường như không tách rời, thể hiện nét đặc trưng gắn bó trong tâm thức, cộng đồng làng xã người Việt, luôn hiện hữu song hành hai chức năng một bên giải quyết vấn đề tinh thần - tâm linh, còn một bên là nơi giải quyết những công việc của làng xã, phong cảnh hòa quyện hữu tình:
                                “ Đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt”
Còn là nơi hò hẹn, bày tỏ tình cảm:
       “ Qua đình ngã nón trông đình
                          Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
Tìm về đình làng thôn Xuân Quang xưa, dấu tích đình làng nằm trọn trong khu vực kho Viettrans – 85 Hoàng Văn Thụ - TP. Qui Nhơn ở góc phía bên trái gần sát phía chân núi, mặt chính quay ra hướng biển. Ngày trước đình làng xây bên sườn núi trên một khu đất rộng, mang dáng dấp đậm nét kiến trúc người Việt gồm hai gian tiền đường và hậu tẩm, gian trước làm nơi đón tiếp, bàn công việc làng xã, gian sau thờ thành hoàng và các bậc tiền hiền, trước có 2 trụ biểu lồng vào giữa là hai câu đối trên chóp đỉnh đắp hai con kỳ lân, thụt vào trong tấm bình phong xây bằng đá ong đắp nổi hình con phụng, trong khuôn viên sân đình có nhiều gốc bàng cổ thụ và giếng nước đá ong, không gian đình dường như mở rộng ra bởi cánh rừng cổ thụ phía trước đình(gọi là khu cấm đình: cấm khai phá, cấm trâu bò chăn thả,...) tạo nên nét duyên thâm trầm, cổ kính.
Theo được biết, Đình làng có sắc thần được sắp xếp theo thứ tự các đời vua khi phong sắc này, đồng thời giao cho một người có uy tín, chức sắc trong làng cất giữ gọi là người phụng sắc, cẩn thận đặt trong hộp gỗ lớn có khóa hai bên hông và dán niêm phong của lý trưởng và chỉ được mở ra khi có những sự kiện lớn cùng chứng kiến đầy đủ các hương chức, lý trưởng, phó lý trong làng. Hằng năm đều tổ chức cúng đình thật “trọng hậu” không chỉ ở những vật cúng, tế, như: xẻ heo, xẻ bò, hát bội,… còn thể hiện ở nghi thức, tế tự chỉn chu, nghiêm túc, đồng thời ngày này là ngày vui chung của thôn mỗi gia đình đều sửa mâm lễ bày tỏ lòng thành, gồm: chè, xôi, bánh, hoa quả,... cúng đình.
 Điều đáng tiếc những sắc phong này đã thất lạc, đình làng bị tàn phá, hủy hoại, tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp năm 1947, sau này việc cúng đình chuyển về thờ cúng chung tại miếu Thanh Minh của thôn, song ngôi miếu này cũng không tránh khỏi sự hủy hoại của thời gian, tàn phá của chiến tranh cũng đã trở nên hoang phế, miếu xưa nay là góc ngã tư đường Tô Hiến Thành và đường Thanh Niên nơi sinh hoạt của Khu phố Văn hóa 1- Phường Quang Trung.


                                                  (Đình làng - ảnh minh họa)
Sau bao năm mai một, cúng Thanh Minh đã được phục dựng, tổ chức trọng thể trong không khí trang nghiêm tại vị trí miếu Thanh Minh xưa từ năm 2006 và hằng năm vẫn được duy trì, song diện tích đã bị thu hẹp đi nhiều chỉ còn lại không gian hoài niệm nhỏ, nhưng thể hiện tấm lòng vị tha nhân ái lớn lao của người dân sống trên mảnh đất này.


                                        Chùa Lộc Uyển
Chùa Lộc Uyển tuy mới hình thành năm 1961, song với hai câu đối trong chùa đã mang lại cảm giác luyến tiếc một “ Xuân Quang – ánh sáng mùa Xuân”  ấm áp dường như vẫn còn vương vấn đâu đây:
鹿

Phiên âm:
Lộc Uyển tác thiền lâm, phong tống từ thuyền siêu khổ hải,
Xuân Quang huy thế mộng, chung thôi đại dạ đáo hàn song

Dịch nghĩa:
Vườn lộc nảy rừng Thiền, gió đẩy bè từ qua bể khổ,
Ánh xuân lay giấc mộng, chuông khua đêm tối tới song hàn.
                                                                      “ Lộc Xuyên Đặng Quí Địch dịch”

3. Truyền thống hiếu  học, vinh danh khoa bảng:
Trong hơn 100 năm, từ khi Tự Đức(1851) cho lập trường thi Hương Bình Định đến khoa thi cuối cùng năm Khải Định(1919), Bình Định lấy đậu 191 cử nhân, nếu tính gộp chung từ khoa thi Hương đầu tiên(1807) tổng cộng có: 244 cử nhân trong đó có 12 lần thủ khoa, 5 tiến sĩ, 3 phó bảng. Tinh thần hiếu học, cầu tiến của người Bình Định không chỉ được thể hiện ở số lượng đỗ đạt qua các kì thi mà còn được lưu truyền trong tâm thức người dân.
                                “Tiếc công Bình Định xây thành
                           Để cho Quảng Ngãi vô dành thủ khoa
                            Thương cho Quãng Ngãi đường xa   
                                        Để cho Bình Định thủ khoa ba lần”
Làng Chánh Thành(gồm:P.Lê Lợi. P.Trần Hưng Đạo, P.Hải Cảng), đóng góp một thủ khoa cử nhân Lê Văn Phái, năm Quí Dậu(1873), niên hiệu Tự Đức năm thứ 26 tại trường thi Bình Định.
Tuy không có cử nhân thủ khoa và khi trường thi Bình Định chưa hình thành, người của làng này có ông Thái Công Quang sinh tại Xuân Mĩ sau này là Xuân Quang đậu cử nhân Hán học vị trí 29/40, năm Thiệu Trị thứ 1(1841) tại trường thi Thừa Thiên.    
Niềm tự hào truyền thống hiếu học của thôn Xuân Quang, cho đến nay vẫn còn lưu truyền, so sánh:
“ Một tỉnh Khánh Hòa, không bằng một nhà Xuân Quang”
 Khi hai anh em ruột Nguyễn Kỳ, Nguyễn Toản cùng đậu cử nhân Hán học đồng khoa với hai vị trí liên tiếp 4/16, 5/16 năm Tự Đức 23(1870) tại trường thi Bình Định

Năm Khải Định thứ 3(1918) khoa thi Hán học cuối cùng tại trường thi Thừa Thiên, ông Tạ Chương Phùng khi ấy 20 tuổi đậu cử nhân, vị trí thứ 6/12, ông có hai người con cũng không kém phần nổi tiếng là nhà giáo Tạ Chí Đông Hải và tiến sĩ sử học Tạ Chí Đại Trường với những tác phẩm nổi tiếng, như: Thần, Người và Đất Việt, Lịch sử nội chiến Việt Nam (1771-1802), Những bài dã sử Việt… và trong lời kể có phần huyền bí, man mác tiếc nuối của các cụ già, đó là khi người Pháp sang xâm lược nước ta, đặt ách đô hộ nhằm khống chế tài năng của thôn này xuất hiện, thực dân Pháp đã cho mở con đường Đèo Son với mục đích nhằm cắt đứt đuôi rồng.
4. Phường Quang Trung ngày nay:
Ngày 30/4/1930, Toàn quyền Đông Dương, Pasquier, ký Nghị định thành lập thành phố Qui Nhơn. Với Nghị định này, thành phố Qui Nhơn được chia làm năm khu phố: Khu 1 và khu 2 (làng Chánh Thành), khu 3 và khu 4 (làng Cẩm Thượng), khu 5 (một phần đất của làng Hưng Thạnh), đến năm 1961, khu 6 được thành lập theo Nghị định số 594-BNV ngày 12/10/1961, khu 6 hiện nay là một phần đất xưa của thôn Xuân Quang và thôn Xuân Vân của huyện Tuy Phước được sáp nhập vào thị xã Qui Nhơn.
Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 2 năm 1976 hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành Nghĩa Bình, thì thị xã Quy Nhơn trở thành tỉnh lỵ tỉnh Nghĩa Bình đổi Khu 6 thành Phường Quang Trung. Ngày 26 tháng 12 năm 1997, chia phường Quang Trung thành 3 phường: Quang Trung, Ghềnh Ráng và Nguyễn Văn Cừ, với diện tích đất đai hiện tại là: 775 hecta, dân số toàn phường là 19.970 nhân khẩu, 4882 hộ gia đình chia làm 8 khu vực quản lý(số liệu năm 2008).
Trên đây một vài nét sơ lược về thôn Xuân Quang xưa – Phường Quang Trung ngày nay, mong góp một phần nhỏ cho những nghiên cứu chuyên sâu trên nhiều khía cạnh, lĩnh vực: xã hội, văn hóa, giáo dục,… làm phong phú, sâu sắc hơn một tâm hồn Qui Nhơn hiện đại trong tương lai.



                                                                        Hoàng Bình TVBình Định











Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét